Không thể mãi xuất khẩu cà phê thô
Ngành cà phê Việt Nam đang đứng trước thực tế xuất khẩu cà phê thô đã chạm ngưỡng, khó tạo bứt phá bền vững nếu không thay đổi cách làm
Thống kê cho thấy từ năm 2021 đến nay, xuất khẩu cà phê Việt Nam liên tục tăng trưởng mạnh qua từng năm.
Tăng nóng nhờ giá, chủ yếu xuất thô
Nếu như năm 2021 chỉ khoảng 3 tỉ USD thì năm 2022 là 3,94 tỉ USD, tăng trưởng hơn 31%. Đặc biệt, giai đoạn 2023 – 2025, tốc độ tăng còn nhanh và mạnh hơn nhiều khi đạt lần lượt 4,06 tỉ USD, 5,48 tỉ USD và đỉnh điểm năm 2025 đạt 9 tỉ USD. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ giá cà phê thế giới. Nếu năm 2021, giá xuất khẩu bình quân chưa đến 2.000 USD/tấn thì đến năm 2025 đã lên 5.660 USD/tấn, tăng tới 183%.

Giới kinh doanh trong ngành lo ngại sau giai đoạn “tăng nóng”, giá cà phê có thể bước vào chu kỳ giảm. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết là đẩy mạnh chế biến sâu và nâng cao tiêu chuẩn nguyên liệu để phát triển bền vững.
Các doanh nghiệp (DN) dẫn chứng từ câu chuyện tập đoàn Nestlé của Thụy Sĩ, một ông lớn cà phê toàn cầu, vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với những số liệu khiến ai nấy đều giật mình. Chỉ riêng một nhãn hàng của Nestlé là Nespresso đã mang về gần 8,4 tỉ USD doanh thu, tăng 6% so với năm 2024. Con số này tương đương giá trị xuất khẩu toàn ngành cà phê mang lại trong cả niên vụ 2024-2025. Trong khi Nestlé còn rất nhiều thương hiệu tỉ đô khác cũng chuyên về cà phê như Nescafé, Starbucks at Home…
Ông Nguyễn Đức Hưng, Giám đốc Công ty CP SX-TM-XNK Cà phê Napoli, chỉ ra một nghịch lý khiến nhiều người bất ngờ hơn khi Thụy Sĩ là nước không hề trồng cây cà phê nào nhưng lại có doanh số từ cà phê cực lớn và bán cà phê cho khắp thế giới trong khi Việt Nam xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới nhưng chủ yếu là nguyên liệu thô. Xuất khẩu thành phẩm rất ít. “Đây là điều rất thiệt thòi cho các vùng nguyên liệu như Việt Nam” – ông nhấn mạnh.
Theo ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, DN xuất khẩu cà phê nhân hàng đầu Việt Nam, thách thức lớn nhất của ngành cà phê hiện nay là làm sao để thoát khỏi “bẫy xuất khẩu thô” và xây dựng một thương hiệu nông nghiệp bền vững. Ông cho biết Công ty TNHH Vĩnh Hiệp đã có kế hoạch thoát “bẫy” này bằng 5 dự án trọng điểm có tổng vốn đầu tư 710 triệu USD. Trong đó, có dự án nhà máy sản xuất chế biến công nghệ cao sấy lạnh và sấy phun, nhằm tạo ra sản phẩm ở phân khúc cao cấp với công suất 18.000 tấn/năm.
Dự án nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm cà phê (công suất 25.000 tấn/năm) sẽ tái tạo nguồn dinh dưỡng cho đất, giúp giảm chi phí đầu vào cho nông dân và bảo đảm tiêu chuẩn “Cà phê sạch” cho các thị trường khó tính như EU và Mỹ.
Cũng theo ông Thái Như Hiệp, có một nghịch lý là giá 1 kg cà phê nguyên liệu 100.000 đồng/kg bị cho là đắt nhưng một ly cà phê giá 100.000 đồng lại được thị trường chấp nhận. “1 kg cà phê nhân cho ra 0,8 kg rang xay và pha được khoảng 40 ly cà phê” – ông Hiệp dẫn một công thức tính cho thấy sự định giá bất hợp lý dành cho nguyên liệu. Qua đó lý giải vì sao ngành cà phê Việt Nam phải phát triển chế biến sâu, nâng chất lượng nguyên liệu từ vùng trồng, tạo ra hương vị tự nhiên riêng, đưa giá trị xuất khẩu của cà phê Việt Nam vượt 10 tỉ USD mà không cần chờ đợi một cơn sốt giá mới.
Ông Lê Ngọc Ánh Minh, Chủ tịch Pacific Group, Trưởng đại diện Phòng Thương mại BRICS-ASEAN tại Việt Nam, nhận xét các DN đang chuyển dịch từ “bán thô” sang khâu chế biến, đóng gói và tự làm thương hiệu. Đây là một xu hướng tích cực, mang lại giá trị gia tăng cao và nhiều ngoại tệ hơn.
Theo ông Minh, để bước vào con đường này, DN Việt phải vượt qua 2 rào cản lớn nhất. Đó là, rào cản kỹ thuật của nước nhập khẩu và chen chân vào thị trường cà phê vốn có sự thống trị của các tập đoàn thực phẩm lớn có tuổi đời hơn 100 năm và có kinh phí quảng cáo khổng lồ để định hình tâm trí người tiêu dùng. “Khi mới bắt đầu, DN có thể đi theo các chương trình xúc tiến thương mại của Chính phủ để tiết kiệm chi phí và khai thác cộng đồng người Việt ở nước ngoài (Mỹ, Úc, Đông Âu…) trước khi thâm nhập thị trường bản địa. Bên cạnh đó, có thể hợp tác với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam để cùng hợp tác (gia công hoặc đồng thương hiệu) để đưa sản phẩm ra thế giới theo mạng lưới của họ” – chuyên gia này gợi ý.
Sớm tạo dựng niềm tin và sự công nhận toàn cầu
Ngoài câu chuyện chế biến sâu, một nghịch lý nữa cũng tồn tại nhiều thập kỷ với ngành cà phê. Theo đó, Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới với quy mô xuất khẩu chiếm hơn 40% sản lượng toàn cầu. Tuy nhiên, đến nay dòng cà phê này vẫn chưa có hệ tiêu chuẩn và ngôn ngữ chất lượng được quốc tế công nhận đồng bộ như cà phê Arabica, khiến giá trị thực tế chưa được phản ánh tương xứng.
Ông Trịnh Đức Minh, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê Buôn Ma Thuột, cho rằng khoảng 70% sản lượng cà phê hiện vẫn vận hành theo phương thức truyền thống, thiếu dữ liệu truy xuất đầy đủ; chỉ khoảng 30% được quản lý theo các mô hình chứng nhận và truy xuất hiện đại.



