Giá lúa gạo tiếp tục tăng, Philippines có thể sắp nhập khẩu lượng gạo cao kỷ lục
Thị trường lúa gạo trong nước ngày 23/4 ghi nhận diễn biến tương đối tốt trong phiên hôm nay, giá lúa tiếp tục xu hướng tăng ở một số chủng loại chủ lực. Trên thị trường xuất khẩu, gạo xuất khẩu tiếp đà tăng, thị trường xuất khẩu gạo châu Á cũng nhích lên.
Giá lúa gạo hôm nay, ngày 23/4: Gạo thơm và gạo chất lượng cao vẫn giữ giá tốt, gạo xuất khẩu tăng
Khảo sát tại các điểm bán lẻ cho thấy, trong ngày 23/4, giá gạo hầu như không có sự điều chỉnh đáng kể so với những phiên trước. Mặt bằng giá được giữ ổn định trên diện rộng, phản ánh trạng thái cân bằng tương đối giữa cung và cầu.
Các dòng gạo phổ thông tiếp tục duy trì mức giá sau giai đoạn tăng nhẹ trước đó. Trong khi đó, nhóm gạo thơm và gạo chất lượng cao vẫn giữ giá tốt nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định.
Theo đánh giá của các thương nhân, thị trường hiện chưa xuất hiện yếu tố đủ mạnh để tạo ra biến động rõ rệt về giá trong ngắn hạn, khiến xu hướng đi ngang tiếp tục chiếm ưu thế.
Cụ thể, với mặt hàng gạo, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang và Lúa gạo Việt, hiện gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.200 – 8.300 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.400 – 8.500 đồng/kg gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.000 – 8.050 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 – 8.900 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 5451 ở mức 8.650 – 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 – 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 tăng 300 đồng/kg dao động ở 10.750 – 10.090 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo ổn định giá so với hôm qua. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 – 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 14.000 – 15.000 đồng/kg, gạo thường dao động ở mốc 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 – 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.
Trái với diễn biến của gạo, giá lúa trong ngày 23/4 tiếp tục ghi nhận mức tăng nhẹ ở một số giống chủ lực, tín hiệu tích cực từ lực thu mua. Đáng chú ý, lúa IR 504 duy trì đà tăng nhờ nhu cầu thu mua ổn định từ doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các giống lúa chất lượng cao vẫn giữ được mức giá tốt, cho thấy thị trường đang vận hành theo hướng tích cực và ổn định hơn. Mặt bằng giá lúa có dấu hiệu được thiết lập ở vùng cao hơn so với giai đoạn trước.
Cụ thể với mặt hàng lúa, theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, hiện giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 6.000 – 6.200 đồng/kg; giá lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.000 – 6.100 đồng/kg; giá lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.800 – 5.900 đồng/kg; giá lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 – 5.600 đồng/kg; giá lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 – 5.200 đồng/kg.
Giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.250 – 11.500 đồng/kg. Hiện tấm 2 dao động ở mức 7.250 – 7.350 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 10.500 – 11.500 đồng/kg, so với hôm qua.
Triển vọng lúa gạo ngắn hạn: Xu hướng tích lũy tiếp diễn
Ở thị trường quốc tế, giá gạo tại một số quốc gia châu Á được điều chỉnh tăng. Gạo 5% tấm của Thái Lan dao động quanh mức 388–392 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn so với trước đó, trong khi gạo 100% tấm đạt khoảng 369–373 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm ở mức 346-350 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn; gạo 100% tấm chào bán 283-287 USD/tấn. Mặc dù có sự cải thiện so với đầu tháng, thị trường vẫn chịu tác động từ chi phí vận chuyển, giá năng lượng và các yếu tố kinh tế vĩ mô, khiến giá cả biến động trong biên độ hẹp và chưa hình thành xu hướng rõ ràng.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam cũng tăng so với đầu tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 486-490 USD/tấn, tăng 21 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 336-340 USD/tấn, tăng 2 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 490-500 USD/tấn.
Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại – Bộ Công Thương (VITIC) cho biết, trong ngắn hạn, giới phân tích nhận định thị trường lúa gạo nhiều khả năng sẽ tiếp tục diễn biến theo xu hướng tốt lên. Giá gạo được dự báo duy trì trạng thái ổn định trong những phiên tới, trong khi giá lúa có thể tăng thêm khoảng 50 – 100 đồng/kg nếu lực cầu tiếp tục được giữ vững.
Nhìn chung, thị trường đang bước vào giai đoạn tích lũy. Nếu nhu cầu thu mua trong nước hoặc xuất khẩu gia tăng trong thời gian tới, giá lúa có thể tăng rõ rệt hơn, qua đó tạo tác động lan tỏa sang mặt bằng giá gạo.
Diễn biến mới nhất trên thị trường cho thấy Philippines có thể phải tăng nhập khẩu gạo để đáp ứng nhu cầu trong nước, sản xuất gạo của nước này dự báo thiếu hụt.
Theo BusinessWorld, Bộ Nông nghiệp Philippines (DA) cho biết nhập khẩu gạo trong năm nay có thể đạt 4,8 triệu tấn, tương đương hoặc vượt mức kỷ lục của năm 2024, trong bối cảnh chi phí đầu vào gia tăng và rủi ro El Niño đe dọa sản lượng nội địa.

“Trước những áp lực này, nhiều khả năng khối lượng nhập khẩu sẽ đạt khoảng 4,8 triệu tấn hoặc cao hơn trong năm nay,” Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Arnel V. de Mesa cho biết trong cuộc trao đổi với báo chí hôm 22/4.
Bộ Nông nghiệp Philippines cho biết chương trình gạo của DA đã điều chỉnh dự báo nhập khẩu từ mức ban đầu 4 triệu tấn lên mức đảm bảo dự trữ đủ dùng trong 85 ngày vào cuối năm (tiêu chuẩn an ninh lương thực mà cơ quan này đang áp dụng).
Theo Cục Công nghiệp Thực vật, trong quý I, Philippines đã nhập khẩu 1,29 triệu tấn gạo, tăng 40,17% so với cùng kỳ năm trước (917.855 tấn) và cao hơn 71,54% (khoảng hơn 500.000 tấn) so với dự báo trước đó của DA là 750.000 tấn mà Bộ Nông nghiệp (DA) đề nghị các doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu. Ước tính đến thời điểm này lượng gạo mà Philippines nhập khẩu từ Việt Nam cũng đã vượt 1 triệu tấn.
Được biết, giá gạo giảm vào cuối quý I do ảnh hưởng từ xung đột tại Trung Đông. Tuy nhiên, bước sang đầu tháng 4, giá gạo tại các trung tâm xuất khẩu lớn ở châu Á như Việt Nam, Thái Lan đã đồng loạt tăng trở lại nhờ nhu cầu cải thiện và chi phí vận chuyển, sản xuất gia tăng.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO), sản lượng gạo toàn cầu được dự báo tăng 2% trong niên vụ 2025-2026, đạt mức kỷ lục 563,3 triệu tấn (xay xát). Trong khi đó, mức tiêu thụ gạo toàn cầu cũng dự kiến sẽ đạt đỉnh mới 555,6 triệu tấn trong niên vụ 2025-2026, tăng 2,7% so với niên vụ 2024-2025.
Thương mại gạo basmati toàn cầu, đạt đỉnh 6,85 triệu tấn trong năm tài chính 2024–2025, được dự báo giảm còn khoảng 6,4–6,5 triệu tấn. Nguyên nhân chủ yếu do xuất khẩu của Ấn Độ giảm khoảng 9% vì gián đoạn từ xung đột tại Trung Đông, khiến chi phí vận chuyển, bảo hiểm tăng và phát sinh ách tắc giao hàng, thanh toán, đặc biệt tại thị trường Tây Á.
Theo báo cáo của FAO, trong quý I/2026, chỉ số giá gạo toàn cầu (FARPI) đạt trung bình 102,1 điểm, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá gạo thế giới ghi nhận xu hướng phục hồi và tăng trong hai tháng đầu năm, song đã quay đầu giảm trong tháng 3 dưới tác động của xung đột tại Trung Đông.
Số liệu của Cục Hải quan Việt Nam cho thấy, kết thúc quý I/2026, Việt Nam đã xuất khẩu 2,3 triệu tấn gạo, với giá trị kim ngạch thu về đạt 1,1 tỷ USD, giảm 1,2% về lượng và giảm 10,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang Philippines, Trung Quốc, Malaysia tăng mạnh, nhưng các thị trường tại châu Phi lại có xu hướng giảm.
Trong quý I, giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam ở mức 470 USD/tấn, giảm gần 10% (51 USD/tấn) so với cùng kỳ năm ngoái. Tính riêng trong tháng 3, giá xuất khẩu bình quân đạt 475 USD/tấn, giảm 3,5% so với tháng 3/2025, nhưng điểm tích cực là đã phục hồi và tăng 3,8% so với tháng trước.
Thị trường gạo được cho là sẽ tiếp tục duy trì xu hướng tích cực khi giá có xu hướng tăng do chi phí vận chuyển và phân bón gia tăng, trong khi lo ngại El Nino thúc đẩy nhu cầu dự trữ. Trong nước, vụ đông xuân tại Đồng bằng sông Cửu Long bước vào cuối vụ, nguồn cung thu hẹp, góp phần đẩy giá lúa gạo nguyên liệu tăng.
(Theo Danviet.vn)



