Xuất khẩu cà phê quý II/2026 chững lại do nguồn cung giảm
Xuất khẩu cà phê quý II/2026 chững lại khi nguồn cung trong nước giảm sau vụ thu hoạch, trong khi dư cung toàn cầu lớn và nhu cầu phục hồi chậm.
Những ngày đầu tháng 4/2026, giá cà phê nội địa giảm mạnh do nguồn cung toàn cầu gia tăng, trong khi nhu cầu tiêu thụ chưa cải thiện rõ rệt. Đồng thời, hoạt động bán ra của doanh nghiệp và thương nhân tăng lên, tiếp tục tạo sức ép lên giá.
Cụ thể, ngày 22/4, giá cà phê tại các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Nông cùng giảm 500 đồng/kg. Mức giá cao nhất ghi nhận tại Đắk Nông đạt 87.100 đồng/kg, trong khi thấp nhất tại Lâm Đồng là 86.300 đồng/kg. Trước đó, ngày 9/4, giá cà phê tại các địa phương này đã giảm 1.700 đồng/kg so với ngày 1/4, dao động phổ biến từ 85.300 – 86.000 đồng/kg.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), năm 2026, sản lượng cà phê toàn cầu dự kiến đạt khoảng 182,5 triệu bao, trong khi nhu cầu tiêu thụ chỉ ở mức 172,5 triệu bao, tạo ra mức dư cung khoảng 10 triệu bao. Triển vọng dư cung này đã tác động tiêu cực đến tâm lý thị trường, khiến các quỹ đầu cơ và nhà giao dịch đẩy mạnh bán ra.
Nguồn cung từ các quốc gia sản xuất chủ chốt tiếp tục gia tăng. Brazil và Indonesia bước vào vụ thu hoạch trong điều kiện thời tiết thuận lợi, làm gia tăng kỳ vọng về sản lượng. Đáng chú ý, theo Conab, sản lượng cà phê Brazil niên vụ 2026–2027 có thể đạt 66,2 triệu bao, tăng 17,1% so với niên vụ trước.
Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ toàn cầu phục hồi chậm và tồn kho có xu hướng tăng. Lượng tồn kho cà phê Arabica đạt chuẩn trên sàn ICE đã lên mức cao nhất trong hơn 6 tháng, khiến các doanh nghiệp rang xay hạn chế mua vào. Sự kết hợp giữa dư cung và nhu cầu yếu tiếp tục tạo áp lực giảm giá trong ngắn hạn.
Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao kỳ hạn tháng 5 và tháng 7/2026 lần lượt giảm 4,7% và 4,4% so với ngày 1/4, xuống còn 3.328 USD/tấn và 3.256 USD/tấn. Trên sàn New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn cùng kỳ cũng giảm 1,4% và 0,5%, xuống 294,05 Uscent/lb và 289,3 Uscent/lb.
Tại Việt Nam, ở chiều xuất khẩu, tháng 3/2026 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh. Theo số liệu từ Cục Hải quan, xuất khẩu cà phê đạt 222 nghìn tấn, trị giá 990,2 triệu USD, tăng 56% về lượng và 47,5% về trị giá so với tháng trước; so với cùng kỳ năm 2025 tăng 15,6% về lượng nhưng giảm 11,5% về trị giá.
Lũy kế 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt 590,5 nghìn tấn, trị giá 2,75 tỷ USD, tăng 12,5% về lượng nhưng giảm 7,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá xuất khẩu giảm.
Giá xuất khẩu bình quân trong tháng 3/2026 đạt 4.461 USD/tấn, giảm 5,4% so với tháng 2 và giảm 23,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung quý I, giá xuất khẩu bình quân đạt 4.657 USD/tấn, giảm 17,6%.

Về thị trường, Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục là khu vực tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam. Trong quý I/2026, xuất khẩu sang EU đạt khoảng 274.695 tấn, tương đương 1,23 tỷ USD, chiếm 46,5% về lượng và 44,7% về kim ngạch. Đức, Italy và Tây Ban Nha vẫn là các thị trường chủ lực.
Ngoài EU, Anh cũng là thị trường đáng chú ý. Theo số liệu Hải quan Việt Nam, 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê sang Anh đạt 13.876 tấn, trị giá 77,4 triệu USD, tăng hơn 1 lần so với cùng kỳ năm trước.
Dữ liệu từ Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) cho thấy, tháng 1/2026, Anh nhập khẩu 16,8 nghìn tấn cà phê, trị giá 181,8 triệu USD, tăng 5% về lượng và 41,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá nhập khẩu bình quân đạt 10.808 USD/tấn, tăng 34,9%.
Việt Nam là nhà cung cấp cà phê lớn thứ ba cho thị trường Anh trong tháng này, đạt 1,45 nghìn tấn, trị giá 10,8 triệu USD. Tuy nhiên, thị phần giảm từ 11,65% xuống 8,60%, phản ánh cạnh tranh gia tăng.
Tại Anh, cà phê ngày càng trở thành một phần quan trọng trong lối sống đô thị, với mức tiêu thụ ước tính gần 100 triệu cốc mỗi ngày. Theo IMARC Group, quy mô thị trường cà phê nước này đạt khoảng 9,02 tỷ USD năm 2025 và dự kiến vượt 11,1 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 2,28%/năm.
Xu hướng tiêu dùng đang chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, đặc biệt là các dòng cà phê giá trị gia tăng như cà phê đặc sản, cà phê pha sẵn và cà phê viên nén. Điều này mở ra cơ hội cho các sản phẩm chế biến sâu của Việt Nam.
Để tận dụng cơ hội, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững. Đồng thời, đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với xu hướng tiêu dùng cao cấp, cũng như tận dụng hiệu quả các ưu đãi từ UKVFTA nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
(Theo Thitruongtaichinhtiente.vn)



