Doanh nghiệp Đài Loan có quota nhập khẩu gạo năm 2026, lượng nhập bao nhiêu, cơ hội nào cho gạo Việt Nam?
Để có cơ sở thúc đẩy giao thương xuất khẩu gạo vào Đài Loan (Trung Quốc), Thương vụ Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc đã giới thiệu danh sách các doanh nghiệp Đài Loan có quota nhập khẩu gạo năm 2026.
Theo Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc (Trung Quốc), danh sách các doanh nghiệp được phân bổ hạn ngạch nhập khẩu gạo năm 2026 (đợt đấu thầu 151+152) dựa trên kết quả đấu thầu (Summary List of Bid – Opening Result for the WTO Tariff Rate Quotas of year 2026 allocated through a competitive process) được Thương vụ Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc tổng hợp trên cơ sở công bố cấp chứng nhận của Ngân hàng Đài Loan (BOT).
Thông tin cơ bản về doanh nghiệp được Thương vụ Văn phòng Kinh tế Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc trích từ nguồn : Website doanh nghiệp Đài Loan).

Theo quy định hiện hành của Đài Loan, mặt hàng gạo được Đài Loan quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch sau khi gia nhập WTO. Theo đó, hàng năm Đài Loan mở cửa cho phép lượng quota nhập khẩu là 144.720 tấn gạo với thuế suất trong hạn ngạch là 0% đối với gạo và là 10%-25% với sản phẩm từ gạo. Ngoài hạn ngạch, Đài Loan không hạn chế số lượng nhập khẩu, song thuế nhập khẩu sẽ đánh theo lượng, với 45 Đài tệ/ kg đối với gạo (cho cả 04 loại gạo HS1006 – 10, 20, 30, 40) và 49 Đài tệ/ kg đối với sản phẩm từ gạo.
Theo công bố của BOT, trong lần đấu thầu hạn ngạch này, đã có 34 doanh nghiệp trúng thầu với tổng lượng gạo được nhập khẩu là 35.652 tấn. Trong đó Theo thông báo, lượt đấu thầu 151 có tổng hạn ngạch 15.000 tấn, cho phép nhập khẩu trong thời gian từ ngày 01/01/2026 đến ngày 15/9/2026. Trong khi đó, lượt đấu thầu 152 có tổng hạn ngạch 20.652 tấn, với thời gian nhập khẩu từ ngày 01/3/2026 đến ngày 15/9/2026. Lượt đấu thầu 153 cũng sẽ có tổng hạn ngạch 15.000 tấn, cho phép nhập khẩu trong thời gian từ ngày 01/05/2026 đến ngày 15/9/2026 song chưa được công bố kết quả
Công bố của BOT cũng cho thấy, các doanh nghiệp trúng thầu hạn ngạch lớn trong hai lượt đấu thầu 151 và 152 chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh lương thực, nhà máy xay xát gạo và các công ty thương mại nông sản có mạng lưới phân phối rộng tại Đài Loan. Trong đó, một số doanh nghiệp nổi bật gồm:
Lungsin Industry Co., Ltd.: tổng hạn ngạch 4.830 tấn (2.622 tấn ở lượt 151 và 2.208 tấn ở lượt 152) – là doanh nghiệp trúng thầu lớn nhất trong hai lượt đấu thầu.
Yu Young Enterprise, Ltd. Ye Co., Ltd.: 3.500 tấn (1.500 tấn ở lượt 151 và 2.000 tấn ở lượt 152).
Yeedon Enterprise Corp.: 3.500 tấn (2.000 tấn ở lượt 151 và 1.500 tấn ở lượt 152).
Sie-Cheng Siluo Rice Factory: 2.300 tấn (1.000 tấn ở lượt 151 và 1.300 tấn ở lượt 152).
Song Agriculture Trading Company: 2.510 tấn (1.406 tấn ở lượt 151 và 1.104 tấn ở lượt 152).
Hong Yuan Rice Factory: 2.502 tấn (1.398 tấn ở lượt 151 và 1.104 tấn ở lượt 152).
Ngoài ra, một số doanh nghiệp khác cũng được phân bổ hạn ngạch đáng kể trong một trong hai lượt đấu thầu như Guanshan Rice Castle Co., Ltd. (1.500 tấn), Lungshin International Co., Ltd. (1.800 tấn), Grain & Rice Enterprise Co., Ltd. (1.500 tấn), Beansum Co., Ltd. (1.500 tấn), Ping-Tung Foods Corporation (1.150 tấn) và Shinn Cherng Co. (993 tấn).
Việc các doanh nghiệp trên chiếm tỷ trọng lớn trong tổng hạn ngạch nhập khẩu cho thấy vai trò chủ đạo của các nhà máy xay xát và doanh nghiệp thương mại nông sản trong chuỗi cung ứng gạo nhập khẩu của Đài Loan. Các doanh nghiệp này thường có hệ thống kho bãi, xay xát và phân phối ổn định, đồng thời duy trì quan hệ nhập khẩu lâu năm với các nước xuất khẩu gạo trong khu vực. Ngoài ra, qua theo dõi thị trường được biết, các doanh nghiệp trúng thầu với lượng gạo nhỏ, thường sẽ dùng lượng quota này để nhập các sản phẩm từ gạo (bún, miến, mì, phở vv…) thay vì nhập gạo trực tiếp.
Theo số liệu thống kê của Cơ quan Quản lý Ngoại thương Đài Loan (TITA), năm 2025 Đài Loan nhập khẩu về 121,9 nghìn tấn gạo từ 9 đối tác trên toàn cầu, với kim ngạch đạt 93,51 triệu USD, giảm 1,49% về lượng và giảm 7,26% về trị giá so với năm 2024.
Với lợi thế được phân bổ hạn ngạch, Hoa Kỳ là đối tác xuất khẩu gạo lớn nhất vào Đài Loan trong năm 2025, đạt 55,88 nghìn tấn, chiếm 45,84% thị phần, song giảm 13,66% so với năm trước. Trị giá nhập khẩu đạt 41,90 triệu USD, giảm 18,69%, khiến thị phần về giá giảm còn 44,81%.
Tương tự Hoa Kỳ, Thái Lan, nhờ được phân bổ hạn ngạch, tiếp tục củng cố vị trí đối tác xuất khẩu gạo lớn thứ hai của Đài Loan. Thống kê của TITA cho thấy, năm 2025 Thái Lan xuất khẩu sang Đài Loan 25,40 nghìn tấn, tăng mạnh 40,15%, chiếm 20,84% thị phần. Trị giá nhập khẩu đạt 18,81 triệu USD, tăng 29,83%, phản ánh sức cạnh tranh ổn định của gạo Thái Lan cả về số lượng lẫn giá trị.
Việt Nam, mặc dù không được phân bổ hạn ngạch song vẫn duy trì thị phần đáng kể khi xuất khẩu sang Đài Loan 17,48 nghìn tấn gạo, giảm 12,15%, chiếm 14,34% thị phần, đứng thứ ba về lượng. Tuy nhiên, trị giá chỉ đạt 10,01 triệu USD, giảm 21,94%, khiến Việt Nam xếp thứ tư về giá trị, với thị phần 10,70%.
Mặc dù không được Đài Loan phân bổ hạn ngạch gạo riêng theo cam kết WTO, song kết quả xuất khẩu năm 2025 cho thấy năng lực cạnh tranh thực chất của gạo Việt Nam trong phân khúc thị trường tự do và hạn ngạch dân gian. Doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng hiệu quả hạn ngạch dân gian và phần hạn ngạch toàn cầu được chuyển đổi từ hạn ngạch công, qua đó duy trì được thị phần tương đối cao.
Cho đến nay, Philippines là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm gần 48% thị phần trong hai tháng đầu năm 2026.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, khối lượng xuất khẩu gạo tháng 2/2026 ước đạt 640 nghìn tấn, với giá trị 289,4 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo đạt 1,3 triệu tấn với 599,3 triệu USD, tăng 5% về khối lượng nhưng giảm 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Giá gạo xuất khẩu bình quân trong 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 464,1 USD/tấn, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước.
Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 47,6% thị phần. Trung Quốc và Ghana là hai thị trường lớn tiếp theo, với thị phần lần lượt 18,3% và 8,9%.
So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gạo tháng 1/2026 sang thị trường Philippines tăng 17,6%, sang Trung Quốc tăng 5,8 lần, trong khi xuất khẩu sang Ghana giảm 31%.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh nhất tại thị trường Trung Quốc (gấp 5,8 lần) và giảm mạnh nhất tại thị trường Bờ Biển Ngà (giảm 90,9%).
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam hôm nay, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm giá dao động ở mức 400 – 415 USD/tấn; gạo 100% tấm dao động ở mức 316 – 320 USD/tấn; gạo Jasmine giá dao động 430 – 434 USD/tấn.
(Theo Danviet.vn)



