Nông nghiệp sinh thái là chìa khóa thúc đẩy xuất khẩu hồ tiêu ở Việt Nam
Giải pháp chiến lược cho ngành hồ tiêu là tập trung ổn định diện tích quanh 100-110 nghìn ha, phát triển nông nghiệp sinh thái, giảm 50-70% hóa chất.
Chuyển dịch cơ cấu theo mô hình nông nghiệp sinh thái, chế biến sâu
Thị trường gia vị toàn cầu bước vào giai đoạn biến động mạnh với nhiều lực tác động đan xen từ thương mại quốc tế, biến đổi khí hậu, chuyển dịch tiêu dùng, cùng chiến lược an ninh lương thực của nhiều nền kinh tế lớn.
Tăng trưởng dân số đô thị kéo theo nhu cầu gia vị chế biến sẵn, thực phẩm đóng gói, dịch vụ ăn uống quy mô công nghiệp. Nhiều tập đoàn thực phẩm đa quốc gia tăng dự trữ nguyên liệu dài hạn nhằm ổn định chi phí sản xuất. Xu hướng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững, chứng nhận môi trường trở thành điều kiện tiếp cận thị trường cao cấp. Các nhà nhập khẩu lớn tại EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản siết chặt dư lượng hóa chất, tiêu chuẩn lao động, phát thải carbon trong chuỗi cung ứng nông sản. Áp lực tiêu chuẩn tạo ra quá trình tái cấu trúc sâu rộng trong ngành hồ tiêu thế giới. Quốc gia sở hữu năng lực chế biến, logistics, kiểm định chất lượng đạt lợi thế rõ rệt.
Hồ tiêu giữ vị trí đặc biệt trong chuỗi cung ứng thực phẩm thế giới vì mức tiêu thụ trải rộng khắp châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Đông.
Việt Nam nổi lên với vai trò trung tâm trung chuyển, chế biến, định hình giá tham chiếu cho giao dịch toàn cầu. Hệ thống doanh nghiệp xuất khẩu phát triển mạng lưới thu mua rộng khắp Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, liên kết vùng nguyên liệu với hợp tác xã, trang trại quy mô lớn. Công nghệ làm sạch bằng hơi nước, tiệt trùng, nghiền mịn, chiết xuất tinh dầu tạo ra giá trị gia tăng cao hơn xuất khẩu thô. Quá trình nâng cấp công nghệ thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp gia vị gồm logistics lạnh, kho ngoại quan, phòng thí nghiệm kiểm định đạt chuẩn quốc tế, dịch vụ tài chính thương mại phục vụ giao dịch nông sản.
Giai đoạn 2024-2025 đánh dấu bước ngoặt rõ rệt đối với ngành hồ tiêu Việt Nam khi cấu trúc tăng trưởng chuyển hướng sang giá trị thay vì khối lượng. Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,66 tỷ USD phản ánh chu kỳ tăng giá mạnh trên thị trường thế giới. Khối lượng xuất khẩu 247.482 tấn thấp hơn mức 250.600 tấn của năm 2024 khoảng 1,2%, song giá trị tăng 26%. Mức giá xuất khẩu trung bình leo lên 6.607 USD/tấn đối với tiêu đen, 8.629 USD/tấn đối với tiêu trắng.
Khoảng cách lớn so với giai đoạn 2020-2023 cho thấy chu kỳ hàng hóa bước sang pha mới sau thời kỳ cung vượt cầu kéo dài. Giai đoạn giá thấp từng khiến nhiều nông hộ thu hẹp diện tích, chuyển đất sang cây trồng khác như sầu riêng, cà phê chất lượng cao, cây ăn trái xuất khẩu. Chu kỳ sinh trưởng dài của cây tiêu tạo ra độ trễ cung ứng trên thị trường quốc tế. Khi nhu cầu phục hồi mạnh từ ngành thực phẩm chế biến toàn cầu, lượng tồn kho thấp thúc đẩy giá tăng nhanh. Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam tận dụng giai đoạn giá thuận lợi để tái cơ cấu danh mục sản phẩm, tập trung tiêu trắng, tiêu hữu cơ, tiêu chế biến sâu phục vụ chuỗi bán lẻ cao cấp. Biên lợi nhuận cải thiện tạo nguồn vốn đầu tư dây chuyền xử lý hiện đại, kho lưu trữ đạt chuẩn châu Âu, hệ thống truy xuất dữ liệu vùng trồng.

Nguồn: Cục Thống kê.
Vai trò trung tâm chế biến toàn cầu thể hiện rõ qua chiến lược nhập khẩu nguyên liệu từ nhiều quốc gia sản xuất. Năm 2025, lượng nhập đạt 42.688 tấn với giá trị 266,2 triệu USD. Brazil, Campuchia, Indonesia giữ vị trí nguồn cung lớn cho nhà máy chế biến đặt tại Việt Nam. Mô hình kinh doanh dựa trên nhập khẩu tiêu thô, xử lý sâu, tái xuất giúp duy trì công suất nhà máy quanh năm, giảm rủi ro mùa vụ nội địa. Khoảng chênh lệch giá giữa nguyên liệu thô và sản phẩm đã xử lý tạo nguồn lợi đáng kể cho doanh nghiệp. Công nghệ phân loại laser, xử lý vi sinh, tách tạp chất nâng chất lượng hạt tiêu đạt chuẩn cao của thị trường châu Âu. Mạng lưới cảng biển, logistics container lạnh, hệ thống kiểm định an toàn thực phẩm tạo nền tảng cho vị thế trung tâm thương mại gia vị.
Từ góc nhìn kinh tế vĩ mô, chuỗi giá trị hồ tiêu chuyển dần sang mô hình công nghiệp chế biến gắn với thương mại toàn cầu. Nông nghiệp truyền thống chuyển hóa thành hệ thống sản xuất liên kết chặt chẽ giữa nông hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp xuất khẩu, tổ chức tài chính. Dòng vốn đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao tăng lên, thúc đẩy canh tác tiết kiệm nước, quản lý dinh dưỡng đất, giảm phát thải. Hệ sinh thái sản xuất hướng tới tiêu chuẩn bền vững giúp ngành hồ tiêu duy trì vị thế dẫn dắt thị trường quốc tế trong giai đoạn 2026-2030.
Tác động của chu kỳ biến động theo mô hình mạng nhện cobweb tới diện tích, sản lượng, và giá hồ tiêu
Chu kỳ kinh tế nông nghiệp của hồ tiêu Việt Nam thể hiện rõ qua biến động sản lượng và giá cả theo mô hình mạng nhện cobweb, tác động dài hạn tới diện tích canh tác, sản lượng, giá thị trường quốc tế, và dòng vốn đầu tư vào nông nghiệp tại Tây Nguyên cùng Đông Nam Bộ.
Dữ liệu từ 2005-2024 cho thấy quá trình mở rộng nhanh giai đoạn giá cao sau đó bước sang pha điều chỉnh sâu kéo dài nhiều năm. Diện tích 49,1 nghìn ha năm 2005 tăng dần lên 51,3 nghìn ha năm 2010. Giai đoạn 2011-2017 ghi nhận tốc độ mở rộng cực mạnh do giá thế giới đạt đỉnh lịch sử. Nông hộ chuyển đất trồng cà phê, điều, cao su sang hồ tiêu với kỳ vọng lợi nhuận cao. Diện tích toàn quốc đạt 152 nghìn ha năm 2017, mức cao nhất trong lịch sử ngành gia vị Việt Nam. Sản lượng tăng theo độ trễ sinh học của cây tiêu, đạt 275,8 nghìn tấn năm 2021. Sau giai đoạn mở rộng quá mức, thị trường bước vào chu kỳ cung vượt cầu. Giá quốc tế giảm sâu khiến lợi nhuận nông hộ suy giảm mạnh.
Áp lực tài chính khiến nhiều vườn tiêu bị bỏ hoang hoặc chuyển đổi cây trồng. Từ 2017-2024 diện tích giảm xuống 109,8 nghìn ha. Diện tích cho thu hoạch giảm từ 112,9 nghìn ha năm 2020 xuống 98,7 nghìn ha năm 2024. Quá trình suy giảm phản ánh đặc trưng của mô hình cobweb trong kinh tế nông nghiệp. Quyết định trồng dựa trên giá kỳ trước tạo ra dao động cung cầu theo chu kỳ nhiều năm. Khi giá cao, diện tích tăng mạnh dẫn tới dư cung sau vài năm. Giá giảm kéo theo rút lui diện tích. Chu kỳ tiếp tục lặp lại theo dạng xoắn ốc quanh điểm cân bằng thị trường.

Cạnh tranh cây trồng giá trị cao tạo thêm lực đẩy cho quá trình thu hẹp diện tích tiêu. Tây Nguyên chứng kiến tốc độ mở rộng rất nhanh của sầu riêng phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc. Giá cà phê phục hồi từ 2023 khiến dòng vốn quay trở lại ngành cà phê. Lợi nhuận kỳ vọng của hai loại cây trồng tạo áp lực dịch chuyển đất nông nghiệp. Nông hộ ưu tiên mô hình mang dòng tiền nhanh hơn. Chu kỳ đầu tư dài của hồ tiêu khiến mức hấp dẫn giảm trong giai đoạn giá biến động mạnh. Hệ sinh thái đất tại nhiều vùng trồng suy yếu do thâm canh kéo dài cùng lượng phân hóa học cao trong giai đoạn mở rộng nóng. Dịch bệnh rễ, tuyến trùng, nấm đất lan rộng làm giảm năng suất nhiều vườn.
Dù vậy năng suất trung bình của Việt Nam vẫn duy trì khoảng 2,5-2,6 tấn mỗi ha, cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu. Năng suất cao phản ánh trình độ thâm canh cùng kinh nghiệm lâu năm của nông dân vùng chuyên canh. Dự báo vụ 2025-2026 cho thấy sản lượng có thể giảm thêm khoảng 10% do thiếu đầu tư trồng mới cùng biến động thời tiết cực đoan liên quan El Nino và La Nina. Dao động khí hậu làm thay đổi chu kỳ ra hoa đậu trái của cây tiêu, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung thế giới.
Chiến lược thống lĩnh chuỗi giá trị hồ tiêu toàn cầu
Trong khi diện tích Việt Nam thu hẹp, Brazil nổi lên như trung tâm tăng trưởng mới của ngành hồ tiêu toàn cầu. Hai bang Espírito Santo và Pará chiếm phần lớn sản lượng quốc gia. Niên vụ 2024-2025 ước tính đạt khoảng 89.000 tấn, tăng 26% so với niên vụ trước. Năng suất 2.801 kg trên ha đặt Brazil ngang hàng nhóm sản xuất hiệu quả nhất thế giới. Chi phí sản xuất thấp giúp quốc gia Nam Mỹ mở rộng xuất khẩu mạnh. Giá trị xuất khẩu tăng từ khoảng 300 triệu USD năm 2024 lên 522 triệu USD năm 2025.
Việt Nam trở thành khách hàng lớn của nguồn cung Brazil nhằm phục vụ công nghiệp chế biến. Mô hình thương mại hình thành chuỗi liên kết xuyên lục địa. Nguyên liệu thô giá thấp từ Nam Mỹ được đưa vào nhà máy xử lý hiện đại tại Việt Nam trước khi tái xuất sang châu Âu, Trung Đông, Bắc Mỹ. Dù sản lượng lớn, hồ tiêu Brazil thường đối mặt rào cản kỹ thuật tại thị trường phát triển do rủi ro vi sinh cùng dư lượng hóa chất. Phân khúc giá rẻ tại Trung Đông, châu Phi hấp thụ phần lớn khối lượng xuất khẩu.

Indonesia đi theo quỹ đạo trái ngược. Diện tích tại Lampung cùng Bangka Belitung giảm mạnh sau nhiều năm giá thấp. Nhiều vườn tiêu già cỗi thiếu vốn tái canh. Sản lượng 2024-2025 dự báo khoảng 35.000-37.000 tấn, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước. Nguồn cung hạn chế đẩy giá tiêu Lampung lên khoảng 7.300-7.800 USD mỗi tấn. Tiêu trắng Muntok tiệm cận 10.000 USD mỗi tấn. Khối lượng xuất khẩu hạn chế do tiêu thụ nội địa lớn. Tình trạng thiếu hụt góp phần làm giảm tồn kho toàn cầu. Giá quốc tế duy trì mức cao tạo điều kiện cho các trung tâm chế biến như Việt Nam gia tăng quyền định giá.
Thị trường Hoa Kỳ giữ vai trò quan trọng đối với chuỗi giá trị hồ tiêu Việt Nam. Giai đoạn 2025 xuất hiện cú sốc thương mại lớn khi chính sách thuế quan mới nhằm giảm thâm hụt thương mại được áp dụng. Nguy cơ thuế lên tới 46% khiến nhiều hợp đồng nhập khẩu bị đình hoãn trong nhiều tháng. Khối lượng xuất khẩu sang Hoa Kỳ giảm từ 72.311 tấn xuống 55.082 tấn.
Doanh nghiệp Việt Nam phản ứng bằng chiến lược phân bổ lại thị trường. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 88% đạt 19.923 tấn. UAE đạt 22.232 tấn với mức tăng 35,6%. Ấn Độ đạt 12.499 tấn. Đức giữ vai trò cửa ngõ vào thị trường châu Âu. Chiến lược phân tán rủi ro giúp ngành hồ tiêu duy trì dòng thương mại ổn định. Cuối năm 2025 chính sách thuế được điều chỉnh, gia vị được đưa về mức thuế 0%. Thị trường Bắc Mỹ mở lại chu kỳ nhập khẩu mới do tồn kho giảm mạnh trong giai đoạn gián đoạn thương mại dù phán quyết của Tòa án với việc Mỹ đặt ra thuế bổ sung 10% trên toàn cầu vào ngày 20/2/2026 và nâng lên 15% vào ngày 21/2/2026, có hiệu lực từ 24/2/2026 tạo ra nhiều biến động thị trường mới.
Song song biến động thương mại, tiêu chuẩn môi trường cùng an toàn thực phẩm tại châu Âu tạo áp lực chuyển đổi sâu rộng trong sản xuất nông nghiệp. Kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trở thành yêu cầu bắt buộc đối với gia vị nhập khẩu. Hệ thống cảnh báo an toàn thực phẩm của châu Âu tăng tần suất kiểm tra tại cửa khẩu. Một lô hàng vi phạm có thể gây tổn thất lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Nhiều chương trình đào tạo nông dân về quản lý dịch hại tổng hợp được triển khai tại Đắk Lắk, Gia Lai, Đắk Nông. Khu vực khoảng 8.500 ha giảm 98% lượng hóa chất bị cấm. Khoảng 60% khối lượng xuất khẩu từ vùng dự án đáp ứng tiêu chuẩn châu Âu. Quá trình chuyển đổi tạo nền tảng cho ngành hồ tiêu bước sang giai đoạn phát triển bền vững gắn với chuỗi cung ứng minh bạch, công nghệ chế biến sâu, quản lý dữ liệu vùng trồng. Chu kỳ kinh tế nông nghiệp của hồ tiêu Việt Nam vì vậy bước sang pha mới nơi giá trị gia tăng, tiêu chuẩn môi trường, năng lực chế biến đóng vai trò quyết định vị thế quốc gia trên thị trường gia vị toàn cầu.
(Theo Nongnghiepmoitruong.vn)



